5 bài học vẫn còn như mới trong khoảng khủng hoảng tài chính 2008 mà mọi chủ đầu tư nên khắc cốt ghi tâm

10 năm sau vụ sụp đổ của Lehman Brothers, câu chuyện về những sai trái trong dĩ vãng và giải pháp để một cuộc khủng hoảng tương tự sẽ Không xảy ra một lần nữa vẫn là chủ đề được tin báo nhắc tới. Đối với các nhà đầu tư, không nhất mực phải đắm chìm trong những cuộc tranh luận về chuyện các ngân hàng nên được quản lý như thế nào hay nên tái cấu trúc các item phái hiện ra sao. Dĩ nhiên, vụ sụp đổ của Lehman vẫn còn mang tới nhiều bài học cần thiết có ý nghĩa sát khuông với các nhà đầu tư tư nhân. Và dưới đây là 5 bài học được The Wall Street Journal đúc kết.

1. Ko phải mọi bong bóng đều xuất hiện dưới dạng trị giá bị thổi phồng quá mức

Khi cuộc khủng hoảng tài chính 2008 sinh ra, những ký ức về bong bóng dot-com diễn ra phương pháp đó không lâu vẫn còn in đậm trong tâm trí dân chúng. Tuy nhiên chính ký ức đó lại khiến cho thị trường mất cảnh giác khi ý kiến rằng mức giá ở thời gian hiện nay thấp hơn số đông so với những con số vô lý của thời kỳ cuối những năm 1990, vì thế chẳng có gì phải lo về bong bóng. Hoạt động mua bán đang rất ổn.

Nhìn xa hơn, về năm 1929 thì vấn đề này sai hoàn toàn. Có 1 sự thực đáng bi thảm là những người chỉ nhìn vào chỉ số P/E của các cổ hủ phiếu (hoặc bất cứ thước đo giá trị nào khác) đã bị khiến cho mê muội do vì ở giai đoạn trước khủng hoảng thì bong bóng sẽ phóng đại chữ cái E (lãi) trong chỉ số này chứ không chỉ chữ P (giá).

Ngày nay, chỉ số P/E tương lai đang ở mức cao hơn cả thời gian trước khủng hoảng 2008, và một lần nữa chỉ số lãi có vẻ đang rất khả quan, mọi thứ trông đều ổn dù có phổ biến thước đo khác cho thấy chất lượng lãi đã sụt giảm và tỷ trọng nợ của các tổ chức khá cao.

2. Trong khủng hoảng, thanh khoản sẽ lập cập bặt tăm

Rất nhiều nhà đầu tư thút thít về việc khó đàm phán, khác biệt là đối với trái khoán tổ chức và run sợ điều này báo hiệu những rắc rối lớn hơn ở phía trước. Nhưng 2008 cho thấy mối nguy hại thực sự nằm ở niềm tin rằng vẫn có thể dễ ợt mua bán các loại của cải khi khủng hoảng nổ ra.

Trong thời kỳ 2007-2008, chính trái khoán tổ chức là ví dụ minh họa rõ ràng nhất. Trong những năm bốn tuần tươi đẹp trước đây, các đại lý sơ cấp (primary dealers, thường là các ngân hàng thương mại) đã xây dựng 1 lượng hàng tồn kho lớn lao có giá trị lên tới 285 tỷ USD, khiến thị trường có mức thanh khoản cao hơn bao giờ hết. Khi họ bán tháo dỡ số trái khoán này, hoạt động mua bán nhanh chóng mất thanh khoản và khi rắc rối trở thành nghiêm trọng, lợi suất trái phiếu rác đã lên tới 23%. Những sản phẩm càng rối rắm càng trở thành không dễ dàng giao dịch dù trước đó rất được ưa chuộng.

Ở thời điểm hiện tại, các đại lý chỉ nắm trong tay khoảng 10 tỷ đô la. Nhưng nhân tố lại nằm ở các quỹ ETF. Nếu các chủ đầu tư chi tiền vào các quỹ ETF trái khoán tự tin rằng họ có thể tiện lợi bán tháo trong khủng hoảng, họ sẽ phải thuyệt vọng khi rối rắm đến.

3. Công đoạn êm ả kéo dài sẽ dẫn tới sự thừa thãi

Nhà kinh tế học quá cố Hyman Minsky đã liên tục được nhắc tên sau khủng hoảng 2008, bởi cuộc khủng hoảng này đầy đủ diễn ra đúng đắn như miêu tả của ông về chu kỳ đầu tư. Nền kinh tế lớn mạnh trong 1 thời điểm dài (chỉ bị cách quãng tí chút trong năm 2001) đã dẫn tới sự tự đắc. Đại chúng chuẩn bị đi vay và các ngân hàng cũng nới lỏng chính sách giải ngân, phát triển 1 vòng tuần hoàn giữa giá của nả tăng và 1 nền kinh tế lớn mạnh tốt. Khi mọi thứ bị đảo ngược, núi nợ cần phải hoàn trả làm giá của cải đi xuống và đẩy nền kinh tế vào suy thoái sâu.

Công đoạn cuối của chu kỳ chứng kiến sự bùng nổ của cái mà Minsky gọi là "nợ Ponzi", những khoản nợ chẳng thể hoàn trả nhờ số tiền tích lũy trong khoảng doanh thu mà còn yên cầu thặng dư vốn. Tại đỉnh điểm của chu kỳ 2007, các hiện tượng như những vụ thâu tóm được tài trợ bằng nợ, quỹ đầu cơ có tỷ lệ đòn bẩy cao dong dỏng, đầu tư BĐS và những vật phẩm đầu cơ phức hợp ẩn chứa phổ quát rủi ro trở nên bình thường.

4. Hãy chú ý với các sản phẩm vốn đầu tư mới

Trong khoảng các dữ liệu lịch sử, nhà kinh tế học Charles Kindleberger đã chứng minh hoạt động cho vay bừa bãi đã làm cho bí quyết nào để có thể trốn tránh những cố gắng giữ vững nguồn cung tiền và nguồn vốn vay của các công ty quản lý.

Các cải tiến đã cho phép hệ thống nguồn vốn thỏa mãn nhu cầu tín dụng của các chủ đầu tư và doanh nghiệp quá hung phấn bằng cách thức sản xuất những khí cụ vốn đầu tư mới, mà các quỹ thị trường tiền tệ với những sản phẩm siêu phức hợp sôi động trong cuộc khủng hoảng trước là 1 ví dụ.

Hiện tại, các quỹ nguồn hỗ trợ và các doanh nghiệp cho mượn ngang hàng thường được các đơn vị và tư nhân không có đủ điều kiện tiếp cận các khoản mượn mà hệ thống ngân hàng chính thống cung cấp. Hãy hi vọng là diện tích của chúng quá nhỏ xíu để có thể phát hành 1 cuộc khủng hoảng.

5. Lần này sẽ khác

Trong thời kỳ 2007-2008, các nhà băng được bình chọn là bình an vì họ dùng các dụng cụ phái sinh và nghiệp vụ chứng khoán hóa để chuyển không may trong khoảng chỗ này sang chỗ khác. Thay vì làm cho mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, điều này lại đồng nghĩa với không bạn nào nhân thức rủi ro đang nằm ở đâu.

Hiện tại, độ mạnh bạo của các nhà băng được bình chọn dựa trên nguồn vốn và tính thanh khoản, nhưng có tín hiệu cho thấy rủi ro đang được chuyển sang các quỹ và các tổ chức nguồn vốn phi nhà băng. Quy mô của các hoạt động này vẫn còn nhỏ so với 2007 (chí ít là ở bên ngoài Trung Quốc), nhưng đây có thể là mối doạ dọa trong mai sau.

Tin tốt là các hộ gia đình, chỉ huy tổ chức và nhà đầu tư càng dồn vào một chỗ vào cuộc khủng hoảng 2008 thì họ càng cẩn trọng hơn và từ đó nâng cao tài năng tránh được các không may có thể dẫn tới cuộc khủng hoảng tiếp theo.

Đương nhiên hãy nhớ rằng đã 10 năm trôi qua và những ký ức có thể dần mai một.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/WSJ


Đọc thêm: mua dat