Ông È Nhật Nam: 2018 là năm bùng nổ đầu tư trái khoán tổ chức

Thương lượng thứ cấp đối với sản phẩm trái phiếu đang nhộn nhịp hơn qua kênh phân chia tại các ngân hàng, công ti chứng khoán.

Để có một góc nhìn sâu hơn về hoạt động mua bán trái khoán công ty (TPDN), phóng viên NDH có cuộc phỏng vấn với ông È cổ Nhật Nam, chuyên gia tài chính nhà băng, người đã có chuyên nghiệp về sản phẩm đầu tư đang được quan tâm này.

Gắn bó khá lâu với thị trường trái khoán công ty của vn, ông cảm nhận như thế nào về những đổi mới của hoạt động mua bán này những năm qua?

Ông È cổ Nhật Nam: Tại vn, một số doanh nghiệp tạo ra trái khoán từ rất sớm nhưng thực chất lại không khác việc nhận cấp nguồn hỗ trợ và chưa tạo nên một hoạt động mua bán thực thụ. Thay vì cho vay tổ chức, ngân hàng chuyển sang đầu tư trái phiếu.

Các khoản đầu cơ này có thể trao đổi lại giữa các công ty nhưng gần như các trường phù hợp đều nằm nguyên ở bảng bằng phẳng kế toán của ngân hàng.

Phải đến năm 2013 – 2014, hoạt động mua bán TPDN thật sự mới nhen đội ngũ khi TCBS mở đầu sắm sửa và bán lẻ trên thị trường các trái phiếu của Vingroup, Masan.

Nhì năm mới đây, các nhà băng, tổ chức kinh doanh chứng khoán khác cũng xem xét tới thị trường này. Tôi nghĩ rằng năm 2018 là một bước bỗng phá và biến thành năm bùng nổ của trào lưu đầu tư trái phiếu tổ chức. Thay vì chỉ dồn vào một chỗ ở hai đơn vị là TCBS – Techcombank, VPBS – VPBank, một số doanh nghiệp khác cũng đang tham gia tích cực như Vietcombank, ACB, SCB, MBBank....như trường thích hợp trái khoán TNR (bán tại Maritimebank), Sunshine (SCB), Sovico (HDBank).

Một hoạt động mua bán thứ cấp phát triển sẽ có vai trò như thế nào đối với sự tạo ra chung của hoạt động mua bán TPDN, thưa ông?

Nếu như các đàm phán thứ cấp không sản xuất thì chúng ta sẽ chẳng thể có một thị trường mạnh. Nhân tố này cũng tương tự như khi hoạt động mua bán cổ hủ phiếu chỉ có các thương lượng trên sàn OTC với một vài chục chủ đầu tư nắm giữ cổ hủ phiếu chưa niêm yết. Hình như đó, không có thị trường thứ cấp, việc phát triển trái khoán cũng sẽ không khác cấp tín dụng ngân hàng.

Tôi nghĩ rằng cần tạo ra cơ chế để trái phiếu có thể sắm sửa, bán lẻ cho khách hàng là tổ chức, tư nhân một cách thức đa dạng hơn, từ đó mới có thể phát triển hoạt động mua bán thứ cấp thật sự tấp nập. Khi có một lượng chủ đầu tư đủ lớn cho TPDN, tính kiểm soát, đòi hỏi sáng tỏ, yêu cầu thanh khoản sẽ tăng lên và sản xuất hoạt động mua bán trái phiếu đích thực.

Như vài tổ chức, sau khi tư vấn phát triển và phân phối lẻ trái khoán, họ thường yêu cầu công ty sản xuất đưa trái phiếu lên niêm yết. Việc sáng tỏ về tin tức và giá cũng giúp các giao dịch tiện lợi hơn.

Ông Trần Nhật Nam: 2018 là năm bùng nổ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp - Ảnh 1.

Ông È Nhật Nam - chuyên gia vốn đầu tư ngân hàng

Vài năm quay về đây, hình thức đầu tư tham gia TPDN được các cá nhân lựa chọn càng ngày càng phổ thông một phần nhờ lãi suất cao hơn lãi tiền gửi cùng kỳ hạn. Lợi nhuận cao thường đi kèm với việc phải hài lòng không may cao. Vậy so với gửi dè xẻn, đâu là yếu tố không may một nhà đầu tư có thể gặp mặt phải khi tậu TPDN?

Thực ra, đầu cơ sắm TPDN hay gửi tiền tham gia một nhà băng đều là hoạt động cho mượn mang về nguồn thu nhập nhập nhất mực (fixed income). Dĩ nhiên, gửi tiền (cho nhà băng vay) bất biến và an toàn hơn bởi dòng tiền tại các đơn vị tài chính được phân tán, luân chuyển linh hoạt. Các ngân hàng còn phải kiểm soát ngặt nghèo dòng tiền, vâng lệnh những luật pháp ngặt nghèo của NHNN. Việc sắm TPDN (cho đơn vị vay trực tiếp) không may cao hơn khi chủ đầu tư phải dựa vào vào tình hình kinh doanh của riêng đơn vị đó. Buôn bán có thể thành bại, thậm chí xa hơn còn là nguy cơ vỡ nợ.

Việc so sánh mức độ không may đáng ra cần dựa trên hệ số tín nhiệm (credit rating) của các công ty. Hiện Việt Nam vẫn chưa có tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Khi quyết định sắm trái khoán tôi cho rằng các nhà đầu tư nên nỗ lực tìm hiểu chừng không may của công ty, so sánh với chừng không may của ngân hàng đang gửi tiền.

Với trường phù hợp các tổ chức có nền móng vững, đầu ngành hay có ngành kinh doanh đa dạng, kĩ năng vỡ nợ trong ngắn hạn gần như bằng không thì việc mua trái khoán không không may hơn, thậm chí còn bình yên hơn các gửi tiền vào các nhà băng yếu kém.

Hơn nữa, giả dụ các chủ đầu tư chuẩn bị nắm giữ cổ phiếu của một tổ chức kinh doanh thì việc tìm trái phiếu của chính tổ chức này bản chất là còn ít không may hơn so với cổ phiếu vì công ty cam kết một mức lãi suất nhất mực và trái chủ (chủ đầu tư mua trái phiếu) luôn được dành đầu tiên chi trả cao hơn so với cũ rích đông.

Dĩ nhiên, chẳng phải tổ chức nào phát triển trái phiếu chủ đầu tư cũng thuận lợi tiếp cận tin tức. Vừa mới đây, khách hàng khi đến ngân hàng ngoài được trả lời gửi tiền tiết kiệm được trình bày mua TPDN nhưng lại không được biết tình hình vốn đầu tư cụ thể. Trường hợp như vậy, nhà đầu tư nên dựa vào đâu để bình chọn rủi ro? Vai trò của ngân hàng ở những thương vụ tạo ra tương tự?

Ở hoạt động mua bán TPDN mà các nhà băng đang bán từng cái cho đối tượng mua hàng tư nhân, đúng là người dùng không được tiếp xúc được phương thức sử dụng vốn của công ty hay hiểu toàn diện chừng mực uy tín của các doanh nghiệp này.

Chủ đầu tư bởi thế có thể không cảm thấy bình yên. Với thắc mắc này, thực tiễn ngân hàng có nhị cách để khắc phục.

Thứ nhất, ngân hàng đảm bảo bằng việc sản xuất thanh khoản khi khách hàng cần bán lại nhưng không cam kết bảo lãnh. Thay vì giải thích cụ thể về tình hình tài chính tổ chức, phía ngân hàng cho biết đối tượng mua hàng hoàn toàn có thể đến bán lại trái khoán khi cần tiền và nhà băng sẵn sàng cố gắng tối đa để sắm người mua lại. Bí quyết mà các công ty phân phối bán từng cái đang khiến cho là phát triển kênh thương lượng dễ dàng để trái khoán đó có thanh khoản. Hay nói phương pháp khác, họ đang trở thành nhà kiến lập thị trường (market maker) cho các trái phiếu này.

Đối với cơ chế trên, khách hàng cần cân nhắc liệu trong thời điểm nắm giữ TPDN có kỹ năng phá sản không. Giả tỉ trong thời hạn 3, 6 bốn tuần đối tượng mua hàng nắm giữ, trái khoán gặp mặt nhân tố hay doanh nghiệp vỡ nợ thì nhà băng không phải là bên chịu nghĩa vụ. Dĩ nhiên, nhà băng sẽ vẫn đứng ra quản lý của nả bảo đảm của trái phiếu ví như trái khoán có của nả bảo đảm hay đại diện cho trái chủ khiến cho việc với doanh nghiệp sản xuất để đảm bảo lợi quyền tốt nhất.

Còn ở cách thức thứ nhì, nhà băng sẽ cho phép khách hàng có thể bán lại trái phiếu cho ngân hàng hoặc cam đoan bảo lãnh luôn. Vấn đề này không khác việc cấp nguồn đầu tư cho tổ chức nhưng lại giúp chiếm được dòng tiền về từ người địa phương để nhà băng có thể làm cho việc khác. Khách hàng yên tâm hơn nhưng lợi nhuận suất không cao hơn đáng kể so với lợi nhuận tiền gửi.

Trong cả nhị bí quyết này, các công ty đều phải tậu trước trái khoán về cất “kho” rồi sau đó mới bán từng cái dần. Ngân hàng tìm TPDN gần giống như cấp một khoản cho vay, tăng nguồn vốn vay ngân hàng. Dĩ nhiên, khi bán ra, giả dụ không có bảo lãnh, số dư nguồn hỗ trợ sẽ giảm xuống vì rủi ro nguồn hỗ trợ được chuyển giao cho đối tượng mua hàng. Còn trong trường phù hợp có bảo lãnh, số dư trái phiếu này sẽ vẫn bị tính tham gia phát triển nguồn đầu tư.

Về hồ sơ, thứ tự phát triển, việc chào bán trái phiếu lẻ tẻ đơn giản và nhanh hơn cơ chế chào tung ra mọi người. Có ý kiến nghĩ là việc nhà băng hay các tổ chức tậu riêng lẻ rồi sau đó phân phối lại cho rộng rãi chủ đầu tư thay vì chào bán công khai nhằm “lách” luật, ông nghĩ sao về yếu tố này?

Theo qui định hiện hành, việc chào bán trái phiếu ra đại chúng, đơn vị cần khiến cho giấy tờ tạo ra, hoàn thành thủ tục và cần được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo Luật Chứng khoán. Còn hoạt động phát hành riêng lẻ sẽ cần gửi thủ tục công bố Bộ Vốn đầu tư.

Theo Nghị định 90 về phát hành trái phiếu riêng lẻ, đơn vị, cá nhân tìm sơ cấp trái phiếu có thể bán lại cho các đối tượng khác mà không có giới hạn về số lượng người dùng. Việc phân phối lại tuân hành đúng quy định hiện hành nhưng ở một góc độ nào đó cũng có thể gọi là lách việc chào bán công khai. Đến nay, lỗ hổng này đã được quy định chặt chẽ tại Nghị định 163.

Cụ thể, Nghị định này đòi hỏi các trái chủ hạn nhạo báng thương lượng trong phạm vi dưới 100 chủ đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, trong vòng 1 năm kể từ ngày hoàn thành đợt sản xuất trừ trường hợp theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế. Sau một năm, trái phiếu có thể được thương lượng không hạn nhạo báng về số lượng nhà đầu tư.

Nghị định 163 là văn phiên bản luật pháp mới nhất qui định về hoạt động phát triển trái phiếu thay thế Nghị định 90 về phát hành trái khoán hiếm hoi có hiệu lực suốt 8 năm qua. Theo ông, đâu là những điểm thay đổi đáng để ý nhất? Các pháp luật mới sẽ ảnh hưởng lên thị trường TPDN như thế nào?

Nghị định 163 nới vấn đề kiện cho hoạt động tạo ra như bỏ điều kiện doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải có lãi năm liền kề trước, thời gian hoạt động tối thiểu 1 năm tính trong khoảng thời điểm nhận Giấy đủ điều kiện đạt yêu cầu công ty thay vì từ lúc chính thức hoạt động hay công bố nguồn vốn chỉ cần là được kiểm toán.

Qui định mới về giao dịch trái phiếu như đã nói ở trên cũng là một sự thay đối đáng xem xét.

Nhìn tầm thường, nghị định mới dồn vào một chỗ giúp hoạt động tạo ra sơ cấp dễ chơi hơn, nhưng lại chặn đầu đầu đàm phán thứ cấp đối với trái khoán OTC. Vấn đề này có thể đẩy hoạt động mua bán quay về quá trình cũ khi phát hành trái phiếu không khác gì cấp nguồn hỗ trợ vì chỉ có vài lượng nhỏ bé chủ đầu tư chuyên nghiệp, thậm chí chỉ một nhà băng tìm trái phiếu này.

Ở một góc độ khác, luật pháp này sẽ buộc công ty muốn phát hành phổ thông phải qua cách thức chào bán công khai. Khi đó bên phát triển sẽ phải thi hành thêm phổ biến thủ tục để kiểm soát an ninh chủ đầu tư đại chúng. Cá nhân tôi rất ủng hộ thúc đẩy tạo ra ra dân chúng theo chế độ này.

Hình như, Nghị định 163 cũng buộc tổ chức sản xuất phải tăng tính công khai, sáng tỏ ở khâu thông báo thông tin. Trong đó, Sở giao dịch chứng khoán sẽ xây dựng một hệ thống cổng tin tức trái phiếu. Tôi nghĩ là đây là một công việc cần thiết để thị thường hiểu hơn về trái phiếu, cũng như tập đoàn điều hành có sự kiểm soát tốt hơn. Ý nghĩ đó này rất khả quan, khả thi và hoàn toàn hợp lý nhưng để thực hiện nhanh chóng nhất có thể còn phụ thuộc vào năng lực triển khai.

Bước sang năm mới, ông kỳ vọng gì về hoạt động mua bán TPDN năm 2019?

Có một vài nhân tố sẽ tác động khá rõ nét lên thị trường trái phiếu năm nay. Pháp luật giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn về mức 40% từ 1/1/2019 sẽ khiến room tài trợ vốn dài hạn của các nhà băng phải thu nhỏ xíu lại. Thay vì đi vay ngân hàng, tạo ra trái phiếu sẽ là một kênh thay vậy mà các công ty có thể lựa chọn. Việc hoạt động mua bán TPDN tạo ra sẽ mang tới một cú hích mới cho hoạt động mua bán chứng khoán vietnam vốn trước đây chỉ là sân chơi cho các nhà đầu tư cũ rích phiếu.

Trong khi, tôi cho rằng các ngân hàng cũng có thể tiếp diễn sắm đến nguồn vốn dài hạn trong khoảng trái phiếu để nâng cao khả năng tài chính của đáp ứng chuẩn Basel II khi khả năng tăng vốn yếu tố lệ còn gặp gỡ rộng rãi hạn chế giễu.

Xin cảm ơn ông về những san sẻ!

Theo Thanh Thủy

Người đi cùng


Đọc thêm: dịch vụ nhà đất