Tiền gửi dành dụm lên tới 139% GDP, cần có chính sách tạo động lực chuyển tiền nhàn hạ trung dài hạn sang thị trường vốn

Tại phiên đàm đạo về "Khơi thông nguồn vốn vay dài hạn và xúc tiến tạo ra hoạt động mua bán TPDN tại vietnam" nằm trong phạm vi diễn đàn Kinh tế cá nhân Việt Nam 2019 do Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương đồng chủ trì và chỉ đạo tổ chức, ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các đơn vị quản lý kinh tế của NHNN đã đưa ra thực trạng mất bằng vận giữa hoạt động mua bán nguồn vốn vay và thị trường cổ hủ phiếu.

Mất bằng vận giữa nhà băng và thị trường vốn

Ông Hùng cho biết tỷ trọng đầu tư vốn trung dài hạn là 50,6%, dư nợ đạt khoảng 130% GDP khi mà quy mô hoạt động mua bán cũ kĩ phiếu 2018 đạt 91% GDP, diện tích thị trường trái khoán đạt trê 39% GDP trong đó dư nợ trái khoán chính phủ đạt 30% GDP và trái khoán DN đạt 8,6% GDP tương tự nền kinh tế vẫn dựa vào cơ bản tham gia các tổ chức nguồn vốn vay. Yếu tố này cho thấy sức ép của các TCTD rất lớn gây ra sự mất cân bằng về tài chính đặt biệt là vốn đầu tư trung dài hạn.

Tiền gửi tiết kiệm lên tới 139% GDP, cần có chính sách khuyến khích chuyển tiền nhàn rỗi trung dài hạn sang thị trường vốn - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Quốc Hùng

Theo ông Hùng, một số khởi thủy chính dẫn đến sự mất cân bằng trên hoạt động mua bán vốn.

Thứ nhất, vài DN có kế hoạch kinh doanh dài hạn chủ động việc dùng vốn và vận động vốn, tuy nhiên còn phổ quát DN chưa có kế hoạch dài hạn nên vẫn có thói quan sử dụng vốn mượn dài hạn. DN ngại công bố thông tin và tình hình vốn đầu tư chưa minh bạch gây gian khổ cho các TCTD. Thứ ba, các Dn chưa đáp ứng đạt yêu cầu về tạo ra trái khoán.

Về phía NĐT, chưa hiện ra các chủ đầu tư chiến lược mang tính dài hạn. Trong khi các cội nguồn khác như tính thanh khoản trên hoạt động mua bán trái khoán chưa cao, chưa có công ty xếp hạng tín nhiệm để tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia đầu cơ trái khoán DN. Tiệm cơ sở vật chất thông tin cho TPDN chưa hoàn toản, dẫn tới các NĐT chưa nhiệt tình tới thị trường trái phiếu DN.

Theo ông Hùng, cần phải hoàn thành hình thức chế độ phát hành hoạt động mua bán trái phiếu, phát triển chuỗi hệ thống lên tiếng tin tức và xây dựng các công ty xếp hạng tín nhiệm đủ năng lực. Về phía Dn phải nâng cao năng lực tài chính, có ý tưởnrg sản xuất SP dài hạn có lộ trình vận động vốn. NHNN sẽ phối thích hợp ngặt nghèo giữa chế độ tiền tệ và tài khóa để xúc tiến TTCK nói tầm thường và hoạt động mua bán trái khoán nói riêng.

Ông Phạm Hồng Sơn, TTCK mở đầu điều hành năm 2000, từ năm 2010 đến 2018 phát triển bình quân khoảng 25%/năm, thời gian 2010 quy mô TTCK đạt 52,5% GDP và quy mô thị trường nguồn vốn vay là 110% GDP, tới cuối 2018 TTCK đã đuổi gần kịp thị trường nguồn vốn vay (110% GDP so với 130% GDP quy mô của hoạt động mua bán tín dụng). Khoảng bí quyết 10 năm qua đã thu nhỏ rất lớn. Mặc dù 10 năm qua hoạt động mua bán có phổ quát thử thách. UBCK đã phải công bố Bộ Vốn đầu tư và Chính phủ rộng rãi biện pháp để ổn định TTCK.

Ở vài nước, TTCK sản xuất trước rồi tập đoàn quản lý mới đưa ra sườn pháp lý để điều hành thị trường, còn ở vn cơ quan điều hành "như một bà mụ" xây đắp trong khoảng đầu để bảo đảm ngay từ đầu sản xuất vững bền. Hiện nay có trên 1.000 DN đàm phán và niêm yết đây là con số lớn, các DNNN cổ lỗ phần hóa hầu hết, huy động vốn qua phát triển cổ phiếu rất tích cực trong thời điểm qua. NHTM sản xuất từ năm 1960, còn thị trường trái khoán rất non trẻ. Các DN tinh thần rằng vận động vốn qua TTCK tốt hơn ví như muốn vận động vốn trung và dài hạn trong khi vay ngân hàng để chấp hành các dự án trung dài hạn thì rủi ro hơn. Các DN tốt vẫn vận động được qua TTCK.

Về giải pháp, ông Sơn cho biết Sở chứng khoán Thủ đô sẽ xây dựng cổng thông tin về trái khoán DN, UBCK đánh giá TPDN là kênh cần thiết vận động vốn trong thời điểm đến. Luật Chứng khoán sửa đổi xây dựng khung pháp lý giả dụ TPDN sản xuất lẻ tẻ chỉ cho chủ đầu tư công ty và NĐT chuyên nghiệp, vì hàng ngũ nhà đầu tư này kiếm được thức được rủi ro, nếu trái khoán sản xuất ra quần chúng phải có tổ chức kinh doanh định mức tín nhiệm.

Số liệu không ngang nhau về quy mô hoạt động mua bán trái phiếu

Ông Cấn Văn Lực: ADB nghĩ rằng diện tích hoạt động mua bán TPDN đạt 2% GDP nhưng con số của UBCK và NHNN đưa ra chỉ đạt 8,6%, vì sao có con số chênh lệch này?

Theo bà Phạm Thị Thu Hiền hậu, Vụ trưởng Vụ nguồn vốn các nhà băng và công ty tài chính, có sự khác lạ giữa tập đoàn điều hành NN và ADB vì theo pháp luật quy định có 2 hình thức phát triển trái khoán (cá biệt và ra đại chúng), kênh thông tin về TPDN chỉ bắt đầu từ 04 tuần 2/2019, khi mà ADB chưa cập nhật số liệu về tạo ra riêng lẻ.

Chia sớt về công ti định mức tín nhiệm, bà Hiền cho biết Bộ Nguồn vốn, cơ sở pháp lý về công ti định mức tín nhiệm đã được ban hành trong khoảng 2016 nhưng nếu không có cầu thì sẽ không có cung. TPDN là kênh huy động trung và dài hạn thì phải bảo đảm tính công khai sáng tỏ và vai trò của công ty định mức tín nhiệm rất quan trọng. Thời điểm qua UBCK đã làm cho việc với các ban ngành sửa Luật CK để tách bạch việc sản xuất TP ra dân chúng yêu cầu phải có định mức tín nhiệm đồng thời phải niêm yết. Yếu tố kiện phát triển riêng lẻ có nới lỏng hơn nhưng giới hạn cho đơn vị và NĐT nhiều năm kinh nghiệm, NĐT đặt ra vấn đề kiện cho DN phát triển khi vận động vốn phải có định mức tín nhiệm thì có thể sắm cao hơn so với mức thông thường.

Cần có biện pháp chuyển dịch tiết kiệm của cư dân sang hoạt động mua bán vốn

Về sự mất bằng phẳng giữa hoạt động mua bán nguồn vốn vay và hoạt động mua bán vốn, TTCK dù có vận tốc phát triển 25%/năm nhưng quy mô vẫn còn gầy. Tổng của nả hệ thống NH là 199% GDP, ngành bảo hiểm 7% GDP, ngành kĩ nghệ điều hành quỹ hiện giờ mới đạt 17% GDP, có sự chênh rất lớn giữa 3 lĩnh vực này. Trong chuỗi hệ thống nhà băng tiền gửi đơn vị và tư nhân đạt diện tích lên đến 139% GDP, trong đó 79% GDP là tiền gửi của tổ chức khiến cho sao phải có giải pháp dịch chuyển phần dành dụm trung và dài hạn của người dân ngay tại chuỗi hệ thống ngân hàng sang thị trường vốn.

Có phổ biến hy vọng "hơi sai" về hoạt động mua bán trái khoán

Ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng thư ký Hiệp hội thị trường trái khoán Việt Nam, sự sản xuất của thị trường trái khoán thời gian qua rất tuyệt hảo so với các nước trong khu vực. Có rộng rãi hy vọng đang 'hơi sai" về hoạt động mua bán trái khoán. Thực tiễn tại thị trường phát hành, không hề DN nào cũng huy động được trái khoán, các DN phải phát triển đến một mức độ tín nhiệm khăng khăng mới huy động vốn được qua trái phiếu, hoạt động mua bán trái phiếu tại Malaysia đạt 70% GDP nhưng đa phần tập trung vào DN lớn. Một vài người cho rằng sao không để đơn vị start up phát triển trái khoán? Tôi nghĩ là việc này dành cho các quỹ hedge fund.

Ông Quỳnh cho biết vẫn còn vài khúc bận bịu về luật, quy định đòi hỏi DN phải có 3 năm liền không có số tiền phải thanh toán quá hạn gốc và lãi mới được phát triển TP khi mà Nghị định 63 cho phép huy động trái phiếu để cơ cấu nợ, yếu tố này là bất cập. Chúng ta đang vận dụng luật pháp của hoạt động mua bán cổ hủ phiếu sang cho trái khoán. Việc phát hành trái phiếu cho các chủ đầu tư chuyên nghiệp đã nắm bắt rõ về không may, nên không quan trọng phải siết chặt quy định tương tự. Cần thiết nhất là sáng tỏ tin tức, hãy để thị trường định giá rủi ro của DN. Hiện nay công ty phải "2A" mới được phát hành trái phiếu khi mà phổ thông doanh nghiệp có khách hàng nhưng không được phép phát triển.

Về định mức tín nhiệm, Bộ Tài chính hy vọng có 2 công ty khó khăn trên thị trường, chúng ta có thể tạo văn hóa về định mức tín nhiệm. Tại Hàn Quốc và Malaysia công đoạn đầu đề nghị phát triển trái khoán phải xếp hạng tín nhiệm, họ mất 20 năm để sinh ra văn hóa đã đi mượn phát triển trái khoán phải định mức tín nhiệm để tăng tính sáng tỏ hoạt động mua bán. Đây là một "trade off" (tấn công đổi) cần thiết. Chúng ta sẽ kích thích các nhà đầu tư nhiều năm kinh nghiệm, có năng lực vào hoạt động mua bán trái khoán. Bây chừ các NH đang tìm hết trái phiếu DN và "ủ ấp" từ đầu đến cuối thì vấn đề này không đạt mục tiêu của chúng ta.

Tâm An

Theo Trí thức trẻ


Xem nhiều hơn: gia nha dat